Bưởi đường lá cam Bạch Đằng
Kế thừa và phát huy truyền thống trồng bưởi từ bao thế hệ, nông dân xã Bạch Đằng, bằng sự năng động, sáng tạo, cần cù trong lao động sản xuất, đã và đang chung tay xây dựng, phát triển thương hiệu Bưởi Bạch Đằng, cho danh tiếng loại trái cây đặc sản của đất cù lao ngày càng vươn xa. Tự bao giờ, cù lao Bạch Đằng được nhớ đến là “thiên đường bưởi”, bởi diện tích toàn xã vào khoảng hơn 1.000ha, trong đó có đến 600ha là vườn bưởi đặc sản. Khách du lịch về thăm nơi đây, sẽ là không trọn vẹn nếu chưa được thưởng thức những múi bưởi ngọt thơm, được trồng và chăm sóc bởi những người nông dân mộc mạc, chân chất nhưng vô cùng tiến bộ, hội nhập. Điều kiện tự nhiên thuận lợi sẵn có, cùng những kiến thức, kinh nghiệm có được của nông dân Bạch Đằng về nghề trồng bưởi từ nhiều đời, cộng với việc áp dụng khoa học, công nghệ hiện đại vào sản xuất, tất cả đã hội tụ thành những vườn bưởi mướt xanh, sai trĩu quả, làm say lòng du khách. Cứ như vậy, những vụ mùa bội thu đã góp phần quan trọng cải thiện đời sống nông dân. Thấu hiểu tâm huyết của nông dân với nghề trồng bưởi, mong muốn bảo tồn và phát triển danh tiếng cho cây bưởi Bạch Đằng, đồng thời tìm chỗ đứng lâu dài trên thị trường, năm 2010, Hội Nông dân xã Bạch Đằng đã nộp đơn đề nghị Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ cấp chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. Một năm sau đó, ngày 23/6/2011, Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tập thể Bưởi Bạch Đằng chính thức có hiệu lực, nông dân Bạch Đằng như được tiếp thêm động lực trong sản xuất và bảo tồn nghề truyền thống. Đến nay, toàn xã có 25 hộ trồng bưởi được sử dụng tem mang nhãn hiệu tập thể “Bưởi Bạch Đằng”, tổng diện tích trồng bưởi là 15,53ha, sản xuất theo hướng VietGAP. Hàng năm, Hội Nông dân xã thường xuyên phối hợp với các ngành, đoàn thể tuyên truyền, cung cấp thông tin cần thiết có liên quan đến nhãn hiệu tập thể cho các thành viên; phối hợp Ban quản lý và Ban kiểm soát nhãn hiệu tổ chức kiểm tra định kỳ và đột xuất về việc sử dụng nhãn hiệu tập thể của Tổ hợp tác Bưởi và các hộ nông dân trồng bưởi được cấp tem, đảm bảo tem nhãn được sử dụng đúng quy định. Từ năm 2011 đến nay, đã có hơn 50.000 tem nhãn hiệu Bưởi Bạch Đằng được cấp phát cho các hộ dân, số lượng tăng dần qua từng năm. Nếu như năm đầu tiên, chỉ có 2.000 tem được cấp, thì năm 2017, số lượng tem đã lên đến 11.000. Hiện nay, bưởi Bạch Đằng đã được cung cấp ra thị trường trong và ngoài tỉnh như Đồng Nai, TP.Hồ Chí Minh, đồng thời, được bày bán tại 2 Siêu thị CoopMart Bình Dương. Những quả bưởi Bạch Đằng chuẩn bị vào mùa thu hoạch Từ năm 2012 đến nay, Hội Nông dân xã Bạch Đằng đã phối hợp và trực tiếp hướng dẫn cho các hộ trồng bưởi những kiến thức khoa học kỹ thuật về cây bưởi như kỹ thuật bón phân, tỉa cành tạo tán, phục hồi cây bưởi sau thu hoạch, kỹ thuật bón phân và xử lý cho cây bưởi ra hoa đồng loạt, phòng trừ sâu bệnh trên cây bưởi, kỹ thuật trồng mới… được 54 cuộc với 1.620 lượt người tham dự. Đồng thời, Hội đã đã tích cực, chú trọng quảng bá, phát triển và nâng cao uy tín của nhãn hiệu tập thể Bưởi Bạch Đằng, thông qua nhiều sự kiện khắp đất nước như: các hội chợ xúc tiến thương mại du lịch tại Hà Nội, Đăk Nông, Thành phố Hồ Chí Minh, Lễ hội Mùa trái chín ở Lái Thiêu, thị xã Thuận An, Phiên chợ Nông sản an toàn tỉnh Bình Dương…. Ông Nguyễn Hữu Tâm – Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Bạch Đằng cho biết: “Bưởi Bạch Đằng có mùi thơm đặc trưng, vị ngọt thanh, không đắng ở miệng, không the ở môi, do đó, khi tham gia triển lãm đã được người tiêu dùng đánh giá rất cao. Hiện nay, trên thị trường có nhiều nhãn hiệu tập thể về cây ăn trái, trong điều kiện đó, để khẳng định được chỗ đứng vững chắc, yếu tố quan trọng nhất là những quả bưởi được dán tem nhãn Bưởi Bạch Đằng luôn phải đảm bảo đạt yêu cầu, chất lượng, an toàn”. Những năm qua, vườn bưởi Bạch Đằng còn tiếp đón nhiều đoàn nông dân trong và ngoài tỉnh, đoàn công tác từ Hàn Quốc, đồng thời liên kết với Công ty du lịch Mắt Xanh đón 850 lượt khách tham quan mô hình sản xuất bưởi và thưởng thức những quả bưởi thơm ngon, để lại những ấn tượng tốt đẹp về thương hiệu bưởi Bạch Đằng, về đất và người cù lao. Đóng góp tích cực trong việc xây dựng và thương hiệu, phải nhắc đến tổ hợp tác Bưởi Bạch Đằng. Năm 2012, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, khi UBND xã Bạch Đằng thành lập Tổ hợp tác bưởi Bạch Đằng, với sự tham gia của 12 thành viên, mở ra thêm nhiều điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng thương hiệu. Từ khi thành lập đến nay, Tổ hợp tác Bưởi Bạch Đằng đã từng bước hoạt động hiệu quả. Tham gia tổ hợp tác, các thành viên luôn ý thức học hỏi, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Các thành viên còn được tiếp cận nguồn vốn của Quỹ hỗ trợ nông dân, tạo điều kiện đầu tư máy móc, thiết bị cơ giới hoá, phân bón, áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, xây dựng uy tín cho nhãn hiệu. Ngoài sản phẩm trái bưởi, các thành viên còn  sáng tạo, nghiên cứu phát triển theo chuỗi giá trị với các sản phẩm tinh dầu bưởi, rượu bưởi, chè bưởi… được người tiêu dùng ưa chuộng. Tổng doanh thu của Tổ hợp tác trên đạt trên 2 tỷ đồng/năm. Trong đó, nổi bật lên nhiều cá nhân như ông Dương Văn Hải - vuờn bưởi mang lại doanh thu khoảng 500.000.000 đồng/năm, ông Ngô Văn Dũng - doanh thu 650.000.000 đồng/năm, ông Huỳnh Trí Dũng - doanh thu 600.000.000 đồng/năm. Thương hiệu phát triển đã góp phần quan trọng nâng cao đời sống nhân dân.  Qua 6 năm thành lập, Tổ hợp tác bưởi Bạch Đằng nay đã phát triển thành Hợp tác xã Bưởi Bạch Đằng, tổng diện tích 9,3ha với giống bưởi đường lá cam và bưởi da xanh làm chủ lực. Hợp tác xã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngày 15/10/2018, vốn điều lệ 145 triệu đồng, gồm 11 thành viên, khẳng định sự đoàn kết, gắn bó, tâm huyết giữa những người trồng bưởi và nỗ lực, quyết tâm của Đảng uỷ, UBND xã Bạch Đằng về phát triển nghề trồng bưởi đặc sản, phát triển thương hiệu Bưởi Bạch Đằng. Đến thời điểm này, các thành viên Hợp tác xã đã thu hoạch bưởi trên diện tích 5,3ha, doanh thu đạt 550 triệu đồng/ha, còn lại 4ha bưởi Tết chưa thu hoạch. Ông Nguyễn Hữu Tâm – Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Bạch Đằng, Giám đốc Hợp tác xã Bưởi Bạch Đằng cho biết thêm: “Thời gian tới, Hợp tác xã sẽ phấn đấu thực hiện trồng bưởi đạt chuẩn VietGAP, nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm và xúc tiến ký kết hợp đồng với các nhà phân phối, tiêu thụ, mở rộng thị trường, phát triển thương hiệu. Đặc biệt, trong Lễ hội Hương bưởi Bạch Đằng lần II, Hợp tác xã Bưởi Bạch Đằng tham gia 2 gian hàng: một gian hàng trưng bày sản phẩm bưởi và cây giống và một gian hàng trưng bày các sản phẩm chế biến từ bưởi như: rượu bưởi, tinh dầu bưởi, bên cạnh đó, sẽ có nhiều món ăn ngon như chè bưởi, gỏi bưởi, bò nướng lá bưởi… phục vụ du khách”. Ngày 18/1/2019, Lễ hội Hương bưởi Bạch Đằng lần II sẽ chính thức khai mạc, đó cũng là thời điểm mùa bưởi Tết bắt đầu thu hoạch. Những quả bưởi ngon cũng như sản phẩm từ bưởi của Hợp tác xã Bưởi Bạch Đằng nói riêng và nông dân Bạch Đằng nói chung là một phần quan trọng của lễ hội, hứa hẹn sẽ mang đến cho du khách những trải nghiệm thú vị khi đến với đất cù lao những ngày cuối năm Mậu Tuất.
Quýt hồng Lai Vung
Nằm bên dòng sông Hậu được phù sa bồi đắp nên đất đai màu mỡ, huyện Lai Vung (Đồng Tháp) được biết đến là “vương quốc” quýt hồng của vựa trái cây Đồng bằng sông Cửu Long. Loại trái cây này đã trở thành sản vật đặc biệt với hương vị thơm, ngọt, vỏ mỏng ít hạt, đang là mặt hàng giúp người nông dân nơi đây làm giàu. Dọc theo hai con đường liên xã ở huyện Lai Vung là màu sắc bắt mắt của quýt hồng đang vào độ chín. Quýt hồng chủ yếu được trồng tập trung nhiều nhất tại các xã Vĩnh Thới, Tân Phước, Tân Thành và Long Hậu. Với diện tích canh tác gần 2.000ha, mỗi năm, vùng quýt hồng Lai Vung cung cấp cho thị trường khoảng 40.000 tấn. Hiện nay, quýt hồng Lai Vung có mặt ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước và đã được xuất khẩu đi một số nước trên thế giới. Giá quýt hồng thường dao động từ 20.000-25.000 đồng/kg. Những năm được mùa, giá có thể lên đến 30.000 đồng/kg mà vẫn không đủ hàng để bán. Đặc biệt, cũng giống quýt hồng Lai Vung, cũng một kỹ thuật canh tác, nhưng khi đưa về trồng ở vùng khác, chủ yếu quanh khu vực châu thổ sông Cửu Long lại cho năng suất không cao, trái quýt cũng không ngon ngọt, đẹp, năng suất cao như ở Lai Vung. Chính vì vậy, vùng đất này được người dân Đồng bằng Sông Cửu Long mệnh danh là "Vương quốc quýt hồng." Quýt Lai Vung còn có tên dân gian là quýt “tiêu son” do người dân địa phương dùng để gọi một loại quýt quả ngọt, vỏ căng bóng, khi chín màu cam đỏ, có thể bày biện cúng đẹp, để được lâu trong điều kiện tự nhiên. Sau này thương lái gọi thành quýt hồng và từ đó tên gọi này nhanh chóng trở thành một thương hiệu nổi tiếng. Sở dĩ cây quýt hồng nổi tiếng ở vùng đất Lai Vung là nhờ khí hậu và thổ nhưỡng thích nghi đã giúp cho cây trái sum sê, chất lượng thơm ngon ít nơi nào bì kịp.
Nhãn Lồng
Là một trong những thương hiệu lâu đời, mang đậm nét văn hóa dân tộc nên vào ngày 13.9.2012, Tổ chức Kỷ lục Việt Nam đã trao bằng xác lập kỷ lục cho 2 đặc sản của Hưng Yên là nhãn lồng và tương bần tại hội nghị công bố, giới thiệu đặc sản trên địa bàn tỉnh. Trước đó, 2 món đặc sản này đã nằm trong danh sách Top Việt Nam, vào dịp này, cục Sở hữ Trí tuệ cũng trao giấy chứng nhận nhãn hiệu tập thể cho đặc sản tương bần Hưng Yên. Hưng Yên là tỉnh duy nhất cả nước không núi non, có lẽ vì thế mà đất trời ưu ái cho nơi đây trồng được thứ hoa quả ngon như thế. Nhãn lồng là đặc sản đứng thứ 13 trong dánh sách top 50 trái cây đặc sản Việt Nam. Nới kinh đô của loài nhãn lồng phải kể đến vùng Phố Hiến, nằm bên bờ tả sông Hồng, từ xa xưa, nhãn lồng đã biến nơi đây thành vùng đất nổi tiếng văn minh nhộn nhịp, thương lái từ khắp mọi nơi đổ về đây để mong có thể được thưởng thức một lần thức quả được gọi là “vương giả chi quả”, được vua chúa chọn làm đặc sản tiến cống bấy giờ, có lẽ vì vậy, mà có câu ca dao “Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến”. Đến nay, nơi đây vẫn còn giữ được cây nhãn tổ hàng trăm tuổi mà khi xưa được chọn để vặt quả đem tiến vua. Hưng Yên giờ đây đã là thủ phủ của các loài nhãn, nhiều giống nhãn mới lạ khác được trồng như: nhãn nước, nhãn gỗ, nhãn Hương Chi, nhãn Miền Thiết…nhưng tất cả chỉ có loại nhãn lồng Hưng Yên này là ngon nhất. Những quả nhãn vẫn giữ được cùi dày, mọng nước, vị ngọt thơm ăn bao lần vẫn thấy ngon lạ miệng như lần đầu.  Cả tỉnh Hưng Yên có gần 3.000 ha nhãn, sản lượng mỗi năm lên tới 40.000 tấn quả, đem lại giá trị khoảng 300 tỷ đồng, góp 15% vào giá trị sản xuất nông nghiệp cho cả nước, nước ta coi đây là một loại nông sản trọng điểm, đặc biệt, thương hiệu nhãn lồng truyền thống cần được bảo tồn và phát triển, nhất là khi nhãn lồng đang bị đe dọa bởi các giống nhãn giả từ Trung Quốc, sự ảnh hưởng thời tiết dẫn tới năng suất và chất lượng kém như hiện nay.
1 member
Nếp quýt Đạ Tẻh
“Xã nếp Quýt” Để chứng minh cho điều này, ông Bùi Văn Hùng, Chủ tịch UBND huyện Đạ Tẻh đã giới thiệu chúng tôi đến với xã An Nhơn - địa phương dẫn đầu toàn huyện về tỷ lệ trồng lúa nếp. Theo một số bà con địa phương cho biết nếp Quýt xuất hiện ở Đạ Tẻh, mà cụ thể hơn là ở xã An Nhơn từ những năm 90 của thế kỷ trước. Trước đây, giống lúa nếp này được một số hộ dân ở An Nhơn trồng để phục vụ cho nhu cầu của gia đình. Nhưng giờ đây, ở cánh đồng An Nhơn, nếp Quýt đã khẳng định thế đứng của mình trong tất cả các giống lúa mà người dân nơi đây đang canh tác. Nói như vậy bởi lẽ, hiện nay, trong hơn 550ha đất trồng lúa của xã An Nhơn thì đang có tới 350ha chuyên canh nếp Quýt. Tuy nhiện, cũng theo một số bà con khác thì Nếp quýt lại chưa thực sự rõ ngọn nguồn. Tôi chỉ biết, cách đây gần 30 năm, một số hộ dân đồng bào DTTS Tày, Nùng ở thôn 4B đã đưa một giống nếp lạ vào trồng và gọi là nếp Quýt. Để rồi, cái Tết đầu tiên năm đó, ở thôn 4B đã có một số hộ đồng bào Tày, Nùng khoe có cơm nếp thơm ngon nên mọi người mới hay biết. “Tiếng lành đồn xa”, đến nay, nếp Quýt đã trở thành một trong những giống lúa được người dân trong xã lựa chọn để sản xuất và phát triển kinh tế”. Hiện mỗi năm, cây nếp Quýt được người dân An Nhơn gieo trồng trong 2 vụ là vụ Mùa và vụ Đông - Xuân. Diện tích nếp Quýt được gieo trồng hàng năm đã đạt tới hơn 600ha. Dẫn chúng tôi đến một số hộ dân trong xã tìm hiểu về cây nếp Quýt, ông Tô Đức Viện, Chủ tịch Hội Nông dân xã An Nhơn, phấn khởi: “Vụ mùa vừa qua, trong hơn 900 hộ dân của xã, có tới hơn 70% trồng nếp Quýt đều trúng lớn. Mặc dù chưa có thương hiệu như lúa gạo Cát Tiên, nhưng giá trị của nếp Quýt đã được người tiêu dùng khắp nơi biết đến. Trong nhiều năm trở lại đây, thương lái ở tận các tỉnh miền Tây, Bình Dương và TP.HCM đã tìm đến tận chân ruộng để thu mua sản phẩm của bà con. Với giá bán từ 8,5-9 ngàn đồng/kg nếp tươi bà con ai nấy đều vui mừng phấn khởi. Theo tính toán của người dân, trung bình mỗi năm, nếp Quýt mang lại cho họ nguồn lợi nhuận từ 65 - 70 triệu đồng/ha. Riêng vụ Đông - Xuân 2016, tại Cánh đồng Đại Hàm, các anh có đi đến mỏi chân cũng chẳng tìm được một giống lúa nào khác ngoài giống nếp Quýt đâu!”.
Nông sản nho táo Phan Rang
LỊCH SỬ: Ngày 20 tháng 5 năm 1901, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập tỉnh Phan Rang, tỉnh lị cũng có tên là Phan Rang.  Năm 1913, tỉnh Phan Rang bị xóa bỏ, phần phía bắc nhập vào tỉnh Khánh Hòa, còn phần phía nam gọi là đại lý hành chính Phan Rang, thuộc tỉnh Bình Thuận. Ngày 5 tháng 7 năm 1922, tỉnh Phan Rang, còn gọi là tỉnh Ninh Thuận, được tái lập. Tỉnh gồm phủ Ninh Thuận và huyện An Phước (nơi người Chăm cư trú), do một Công Sứ Pháp cai trị. Dưới Công Sứ còn có một Quản Đạo. Năm 1958, tỉnh Ninh Thuận gồm có 3 quận (24 xã):  1 - Thanh Hải (quận lị là Khánh Hải) 2 - An Phước (quận lị là Hậu Phước) 3 - Bửu Sơn (quận lị là An Sơn) Ngày 6 tháng 4 năm 1960, thành lập quận Du Long, do tách một phần đất quận Bửu Sơn và một phần đất của quận Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa, quận lị đặt tại Karom, xã Cam Ly (nay thuộc xã Công Hải, huyện Thuận Bắc). Trước ngày 16 tháng 4 năm 1975, Ninh Thuận gồm có 5 quận là Thanh Hải, An Phước, Bửu Sơn, Du Long và Sông Pha.  Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tỉnh Ninh Thuận dự kiến sáp nhập với các tỉnh Bình Thuận, Tuyên Đức, Lâm Đồng để thành lập tỉnh mới là Thuận Lâm.  Nhưng đến tháng 2 năm 1976, do có sự điều chỉnh từ trung ương cho sát với thực tế, các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Tuy hợp nhất thành tỉnh Thuận Hải. Lúc này tỉnh Ninh Thuận cũ có thị xã Phan Rang và 3 huyện là Ninh Sơn, Ninh Hải và An Phước. (Tài liệu của Phóng Viên Chiến Trường sưu tầm)  https://www.facebook.com/NguoiNhapCuoc1975/
Sóc Trăng có không ít những loại nông sản được xếp vào hàng đặc sản, như: hành tím, artemia, nhãn xuồng cơm vàng Vĩnh Châu; gạo thơm ST, Tài nguyên Thạnh Trị; bưởi da xanh, nhãn tím Kế Sách; quýt đường, cam sành Mỹ Tú… Thế nhưng, người tiêu dùng trên cả nước lại ít khi biết đến những sản phẩm này, dù họ không ít lần sử dụng. Hành tím Vĩnh Châu vẫn chưa thoát cảnh bấp bênh trong tiêu thụ dù chất lượng đã được khẳng định do thiếu một chiến lược quảng bá, tiếp thị, xúc tiến thương mại có hiệu quả. Mãi cho đến khi xảy ra “sự cố giải cứu” hành tím ở vụ hành năm 2015, người tiêu dùng trên cả nước mới thật sự biết đến loại củ hành có màu sắc đẹp, độ thơm nồng cao mà từ trước đến nay mình vẫn hay sử dụng là sản phẩm của vùng ven biển TX. Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Và cũng từ đây, sản phẩm hành tím Vĩnh Châu mới được tiêu thụ một cách rộng rãi, không còn cảnh giải cứu, dù thị trường xuất khẩu ngày một teo tóp lại. Trước đây, mỗi khi nhắc đến bưởi Năm roi, người tiêu dùng luôn nhớ đến cái tên Mỹ Hòa (TX. Bình Minh – Vĩnh Long), còn bưởi da xanh thì Bến Tre mới là số 1. Thế nhưng, trong những lần cùng HTX Bưởi Năm roi (nay là HTX Bưởi da xanh) Kế Thành (Kế Sách) tham dự các cuộc thi trái cây ngon, an toàn tại các kỳ hội chợ nông nghiệp ở Cần Thơ, mới thấy, bưởi Năm roi của HTX Kế Thành luôn nằm trong tốp đầu và không ít lần vượt lên chiếm ngôi đầu. Bưởi da xanh Sóc Trăng được Công ty The fruit (Hà Lan) thu mua xuất khẩu đi nhiều nước nhưng người tiêu dùng trong nước gần như không biết đến. Hay như gạo thơm ST, dù có lúc xuất khẩu lên đến 900 USD/tấn, nhưng vẫn rất ít người tiêu dùng biết nó là ST, bởi khi qua tay nhà phân phối, bán lẻ, nó đã được mang một cái tên khác. Ngay ở thị trường trong nước, gạo ST cũng được gắn cho khá nhiều tên và được bán với giá khá cao. Tại những thị trường lớn trong nước như TP. Hồ Chí Minh hay Hà Nội, lượng gạo ST được tiêu thụ khá mạnh, nhưng hoàn toàn không mang tên ST. Các nhà khoa học trong tỉnh vẫn ngày ngày nghiên cứu, bổ sung quy trình sản xuất; người nông dân vẫn cần mẫn chăm sóc để những loại nông sản trên có được chất lượng, độ an toàn ngày một cao hơn. Bấy nhiêu đó cũng chưa đủ để nông sản đặc sản của tỉnh đến được nhiều hơn với người tiêu dùng đúng với tên gọi và xuất xứ của nó, bởi chúng ta vẫn còn thiếu một chiến lược tiếp thị, quảng bá và xúc tiến thương mại một cách bài bản, thường xuyên và hiệu quả. Dù đạt nhiều giải cao tại các hội thi gạo ngon, nhưng gạo thơm ST vẫn chưa được biết đến nhiều tại những thị trường lớn trong nước. Cứ nhìn vào một số loại nông sản đặc sản khác sẽ thấy, hầu hết từ thanh long Bình Thuận, nhãn lồng Hưng Yên, vải thiều Lục Ngạn hay rau củ, hoa Đà Lạt… mỗi năm đều được tổ chức các hội nghị, hội thảo quảng bá, xúc tiến thương mại không chỉ trong mà còn vươn ra ngoài tỉnh. Những hoạt động đó đã giúp cho những mặt hàng nông sản đặc sản trên dù ở rất xa Sóc Trăng, nhưng người tiêu dùng trong tỉnh vẫn biết đến và chọn mua. Nói như thế để thấy rằng, chúng ta không thiếu những mặt hàng nông sản có chất lượng, đảm bảo về số lượng, nhưng việc tiêu thụ vẫn còn bấp bênh theo mỗi mùa vụ một phần là do hoạt động quảng bá, xúc tiến thương mại chưa được đầu tư đúng mức. Một số nhà khoa học, doanh nghiệp và cả nông dân sản xuất giỏi đã từng ước ao có những ngày hội cho nông sản đặc sản của tỉnh được tổ chức ngay tại những thị trường lớn như Hà Nội hay TP. Hồ Chí Minh để họ được dịp giới thiệu đến người tiêu dùng những sản phẩm chất lượng cao do mình làm ra. Ước mơ đó là hoàn toàn chính đáng và cũng rất cần được hiện thực hóa, bởi nó không chỉ giúp gỡ nút thắt trong khâu tiêu thụ, mà còn góp phần nâng cao giá trị cho những sản phẩm nông sản đặc sản của tỉnh. Những điều kiện cần hầu như đã có (giống, quy trình sản xuất, vùng sản xuất, chất lượng sản phẩm…), chỉ cần thêm điều kiện đủ (quảng bá, xúc tiến thương mại) để người tiêu dùng biết đến nhiều hơn tên gọi, xuất xứ cũng như phẩm chất của nông sản đặc sản Sóc Trăng thì việc hướng đến giá trị gia tăng và phát triển bền vững cho nông sản đặc sản Sóc Trăng như đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp là hoàn toàn có thể đạt được. Giấc mơ về “ngày hội nông sản đặc sản Sóc Trăng” vẫn đong đầy trong mỗi cá nhân, tổ chức tâm huyết về một tương lai tươi sáng cho ngành nông nghiệp của tỉnh nói chung và một số mặt hàng nông sản đặc sản nói riêng. Và tất cả vẫn đang hy vọng, giấc mơ trên sẽ sớm thành hiện thực để vùng đất Sóc Trăng ngày càng được biết đến nhiều hơn không chỉ với những ngôi chùa cổ kính hay những vùng nuôi tôm nước lợ bạt ngàn, mà còn có cả những mặt hàng nông sản đặc sản nổi tiếng chỉ có riêng ở vùng đất ngọt, lợ, mặn này.